Đây là một cơ chế hoàn toàn mới trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Theo dòng sự kiện: Ngày 15/7, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (VKSNDTC) công bố Dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi) để lấy ý kiến người dân đến ngày 4/8/2026. Trong đó, cơ quan này đề xuất cơ chế tự nguyện nhận tội và chấp nhận hình phạt.
- Theo Điều 20 của dự thảo, trong trường hợp người buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thì có thể áp dụng thủ tục rút gọn và được hưởng khoan hồng theo quy định.
- VKSNDTC cho biết quy định mới này nhằm “bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu xử lý tội phạm nhanh chóng, hiệu quả với việc bảo vệ quyền con người và thực hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước”.
- Điều 81 của dự thảo cũng quy định nếu “bị can, bị cáo được áp dụng thủ tục rút gọn khi tự nguyện nhận tội” không tự mời người bào chữa thì phải chỉ định người bào chữa. Đồng thời, Điều 82 của dự thảo cũng quy định bị can, bị cáo trong trường hợp này chỉ có quyền yêu cầu thay đổi, không có quyền từ chối người bào chữa.
- Theo Khoản 2 Điều 443 của dự thảo, để bị can, bị cáo được áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm thì cần đáp ứng các điều kiện sau: (i) tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp; tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; (ii) có biên bản ghi nhận việc trên và việc lập biên bản có sự tham gia của người bào chữa; (iii) có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm, việc nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; (iv) không phải tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trừ các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm tham nhũng chức vụ; (v) không phải vụ án khi xử lý có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chính trị, đối ngoại.
- Điều 445 cũng quy định rõ người bào chữa phải tham gia trong quá trình lập biên bản tự nguyện nhận tội ở tất cả các giai đoạn tố tụng và việc lập biên bản phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
- Các Điều 448, 449 và 451 cũng quy định về việc tự nguyện nhận tội ở từng giai đoạn cụ thể từ điều tra, truy tố đến phiên tòa sơ thẩm.
Quan trọng: Cơ chế tự nguyện nhận tội là một nội dung hoàn toàn mới trong pháp luật hình sự Việt Nam.
- Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành không có quy định nào về việc người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thì có thể áp dụng thủ tục rút gọn và được hưởng khoan hồng.
- Hiện Điều 51 Bộ luật Hình sự chỉ quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với người phạm tội như “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”.
- Với cơ chế mới này, Khoản 2 Điều 442 của dự thảo quy định rõ: “Việc nhận tội của người bị buộc tội không thay thế trách nhiệm chứng minh tội phạm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và không được coi là chứng cứ duy nhất để kết tội”.
Ý kiến chuyên gia: Trả lời Luật Khoa, một chuyên gia luật ẩn danh (vì lý do an ninh) cho rằng “việc dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự bổ sung cơ chế tự nguyện nhận tội là một bước tiến đáng chú ý trong tiến trình cải cách tư pháp hình sự thể hiện xu hướng tiếp cận gần hơn với các mô hình tố tụng hiện đại trên thế giới”. Tuy nhiên, chuyên gia cũng nhận định rằng đây là một chế định có nhiều rủi ro.
- Theo chuyên gia, nếu cơ chế này được thiết kế và vận hành hợp lý thì sẽ có nhiều ưu điểm như giúp rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, giảm chi phí tố tụng, tiết kiệm nguồn lực của nhà nước; khuyến khích người phạm tội chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bị hại khi được bồi thường kịp thời và nâng cao hiệu quả thi hành án.
- Tuy nhiên, chuyên gia cũng cho rằng đây là một chế định còn không ít rủi ro, rủi ro lớn nhất là người bị buộc tội có thể lựa chọn nhận tội không phải vì thực sự có tội, mà vì lo ngại nếu tiếp tục tranh tụng sẽ phải đối mặt với một bản án nghiêm khắc hơn.
- “Tiếp theo là nguy cơ tham nhũng tiêu cực, hình thành đường dây ‘cánh hẩu’ chuyên nhận các vụ ‘tự nguyện’ nhận tội, nếu không có cơ chế minh bạch, giám sát cơ chế này có thể bị biến thành một dạng móc ngoặc ăn chia giữa bộ tứ ‘Công an – Luật sư – Kiểm sát – Tòa án’”, vị chuyên gia nhận định.
- Phân tích thêm về rủi ro của cơ chế này, chuyên gia cho biết: “Nếu người bị buộc tội nhận thấy việc nhận tội luôn gắn với mức án nhẹ hơn nhưng không có tiêu chuẩn pháp lý rõ ràng để kiểm soát, thì rất dễ hình thành tâm lý rằng hình phạt là kết quả của quá trình thương lượng thay vì được quyết định trên cơ sở chứng cứ và pháp luật”.
- “Tôi đánh giá cao việc dự thảo vẫn giữ nguyên một nguyên tắc rất quan trọng, đó là việc nhận tội không thay thế trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng và không được coi là chứng cứ duy nhất để kết tội. Đây là nguyên tắc cốt lõi để phòng ngừa oan sai. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm với những cơ chế kiểm soát minh bạch và hiệu quả trong quá trình áp dụng”, vị chuyên gia nói.
- Khi được hỏi về vai trò của luật sư trong cơ chế này, chuyên gia cho rằng “nếu coi cơ chế tự nguyện nhận tội là một chế định mới thì luật sư chính là thiết chế bảo vệ quan trọng nhất để cơ chế này vận hành đúng mục đích”.
- “Vai trò của luật sư không nên chỉ dừng lại ở việc chứng kiến người bị buộc tội ký biên bản, luật sư phải có điều kiện tiếp xúc riêng với thân chủ trước khi họ quyết định nhận tội, giải thích đầy đủ về quyền, nghĩa vụ, hậu quả pháp lý cũng như những lợi ích và bất lợi của việc lựa chọn thủ tục rút gọn. Chỉ khi người bị buộc tội hiểu đầy đủ và tự mình đưa ra quyết định thì mới có thể coi là tự nguyện theo đúng nghĩa pháp lý.
Bên cạnh đó, luật sư cần có quyền phản đối việc áp dụng thủ tục rút gọn nếu có căn cứ cho rằng việc nhận tội không xuất phát từ ý chí tự do hoặc chưa có đủ chứng cứ khách quan.
Ý kiến của luật sư cần được ghi nhận đầy đủ trong biên bản và phải được tòa án xem xét khi quyết định có chấp nhận áp dụng cơ chế này hay không”, vị chuyên gia luật nhận định.
- “Tôi cũng cho rằng dự thảo đã đi đúng hướng khi quy định việc lập biên bản nhận tội phải có sự tham gia của người bào chữa. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự hiệu quả, cần tiếp tục bảo đảm quyền tiếp cận hồ sơ, quyền gặp riêng thân chủ và quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu của quá trình ghi nhận việc nhận tội. Khi đó, luật sư không chỉ là người bảo vệ quyền lợi của thân chủ mà còn góp phần bảo đảm tính hợp pháp, khách quan và công bằng của toàn bộ quá trình tố tụng”, vị chuyên gia phân tích.
Có thể bạn chưa biết: Thỏa thuận nhận tội (plea bargaining/plea agreement) là cơ chế tố tụng được áp dụng ở nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Australia và một số nước châu Âu. Theo đó, bị can hoặc bị cáo có thể tự nguyện nhận tội để đổi lấy việc được giảm nhẹ cáo buộc, mức án hoặc hưởng một số ưu đãi tố tụng. Tuy nhiên, việc nhận tội phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, có sự tư vấn của luật sư và được tòa án xem xét, chấp thuận nhằm bảo đảm không xảy ra ép cung, bức cung hoặc kết án oan.
Vị chuyên gia luật nêu trên cũng cho rằng dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự không sử dụng thuật ngữ thỏa thuận nhận tội, nhưng về bản chất đã hình thành một cơ chế cho phép người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Bối cảnh: Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam từng ghi nhận nhiều vụ oan sai vì bị can, bị cáo bị ép cung, nhục hình để buộc phải nhận tội. Tiêu biểu là các vụ Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang (2003–2013), vụ Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận (1998–2015), vụ 7 thanh niên ở Sóc Trăng bị bắt oan trong vụ án giết người (2013–2014) và vụ Ngô Thanh Kiều tử vong khi bị hỏi cung tại Phú Yên (2012), v.v.
- Ở vụ án của tử tù Nguyễn Văn Chưởng (Hải Dương), những lá thư mà ông Chưởng gửi từ trại giam cũng mô tả quá trình điều tra với các cáo buộc bị bức cung và dùng nhục hình.
- Trong nhiều năm qua, có nhiều bị can, bị cáo đã xuất hiện trên truyền hình trước phiên tòa để nhận sai phạm, xin lỗi hoặc xin khoan hồng (televised confession). Những trường hợp này gây tranh cãi về tính tự nguyện của lời khai và nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong đó có những vụ nổi bật như: Năm 2009, luật sư Lê Công Định và các bị cáo khác trong vụ án đã thú tội trên truyền hình và xin khoan hồng, sau khi được ra tù ông Định đã nói với BBC rằng mình bị ép phải thú tội; năm 2020, ông Lê Đình Công – con ông Lê Đình Kình – trong vụ Đồng Tâm cũng thừa nhận “những hành động sai trái” của mình trên sóng truyền hình; v.v. Gần đây, có trường hợp ông Đỗ Văn Ngà – bị cáo trong vụ Lê Trung Khoa – thú tội trên sóng VTV trước phiên tòa sơ thẩm (2025); Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh – hai bị can trong vụ án “Chuyện với Thanh” – nhận tội và xin lỗi trên sóng VTV (2026).
Tiếp theo là gì? Dự thảo Bộ luật TTHS (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội khóa 16 thông qua tại Kỳ họp thứ 2, diễn ra vào tháng 10/2026.
|
STT |
Nội dung dự thảo về tự nguyện nhận tội |
Ghi chú của cơ quan chủ trì soạn thảo |
|
|
1 |
Điều 20. Thủ tục đối với trường hợp người phạm tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt Trường hợp người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thì có thể áp dụng thủ tục rút gọn và được hưởng khoan hồng theo quy định tại Điều … của Bộ luật Hình sự và Bộ luật này. |
Bổ sung để quy phạm hóa Chính sách 2. Tạo cơ sở pháp lý để áp dụng thủ tục tố tụng phù hợp đối với trường hợp người bị buộc tội tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu xử lý tội phạm nhanh chóng, hiệu quả với việc bảo vệ quyền con người và thực hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. |
|
|
2 |
Điều 81. Chỉ định người bào chữa 1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên; c) Bị can, bị cáo thuộc trường hợp áp dụng thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt; d) Bị can, bị cáo được áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để hưởng khoan hồng. |
– Sửa cụm từ “dưới 18 tuổi” thành “chưa thành niên” để đồng bộ với Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. – Bổ sung trường hợp điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt để phù hợp với TTLT 05/2025, thực tiễn thi hành và bảo đảm tốt hơn quyền con người theo chính sách 3. – Bổ sung trường hợp bị can, bị cáo được áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để hưởng khoan hồng, phù hợp với chính sách 2, bảo đảm tốt hơn quyền con người theo chính sách 3. |
|
|
3 |
Điều 82. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa 1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa: a) Người bị buộc tội; b) Người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội. Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này. 2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối. 3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này. Đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này thì có quyền yêu cầu thay đổi nhưng không có quyền từ chối người bào chữa. Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này. Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 81 của Bộ luật này và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa. |
– Sửa để đồng bộ với quy định về chỉ định người bào chữa. – Bổ sung “trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 81. Đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 81 thì có quyền yêu cầu thay đổi nhưng không có quyền từ chối người bào chữa” nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo bị điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt và bị can, bị cáo được áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt để hưởng khoan hồng theo chính sách 2 và 3. |
|
|
4 |
Điều 442. Phạm vi, nguyên tắc áp dụng thủ tục rút gọn 1. Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định của Chương này và những quy định khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này. 2. Việc áp dụng thủ tục rút gọn phải bảo đảm xác định đúng sự thật khách quan, toàn diện, đầy đủ của vụ án; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người tham gia tố tụng. Việc nhận tội của người bị buộc tội không thay thế trách nhiệm chứng minh tội phạm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và không được coi là chứng cứ duy nhất để kết tội. 3. Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này thì việc nhận tội, chấp nhận hình phạt phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với chứng cứ khách quan của vụ án. Trong vụ án có nhiều bị can, bị cáo thì thủ tục rút gọn được áp dụng đối với vụ án khi các bị can, bị cáo đều tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt. Trường hợp có bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt nhưng có bị can, bị cáo không nhận tội thì có thể tách vụ án đối với bị can, bị cáo đã nhận tội để giải quyết theo thủ tục rút gọn nếu việc tách vụ án không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Trường hợp không thể tách vụ án thì vụ án được giải quyết theo thủ tục chung; bị can, bị cáo đã tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được xem xét hưởng khoan hồng theo quy định của Bộ luật Hình sự. |
Bổ sung khoản 2 và khoản 3 để phù hợp với chính sách 2 về áp dụng hình phạt nhẹ hơn theo hướng bổ sung một căn cứ mới áp dụng thủ tục rút gọn. Bảo đảm khoan hồng đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt. |
|
|
5 |
Điều 443. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn 1. Thủ tục rút gọn phải được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm ngay khi có đủ các điều kiện sau: a) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú, đầu thú; b) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; c) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng. 2. Thủ tục rút gọn có thể được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện sau: a) Bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp; tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại để được hưởng khoan hồng theo quy định của Bộ luật này và Bộ luật Hình sự; b) Có biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, biện pháp tư pháp; việc lập biên bản có sự tham gia của người bào chữa theo quy định của Bộ luật này; c) Có đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm; việc nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; d) Không thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trừ các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm tham nhũng chức vụ; đ) Không thuộc trường hợp vụ án khi xử lý có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chính trị, đối ngoại. 3. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi vụ án chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo, giảm trách nhiệm dân sự hoặc nội dung khác có lợi cho bị cáo. |
– Chỉnh sửa khoản 3 theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn phúc thẩm |
|
|
6 |
Điều 445. Biên bản ghi nhận việc cam kết tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt 1. Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này thì việc lập biên bản được thực hiện như sau: a) Giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên chủ trì, phối hợp với Điều tra viên lập biên bản với bị can, người bào chữa; có sự tham gia của người tham gia tố tụng khác khi thấy cần thiết; b) Giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên lập biên bản với bị can, người bào chữa; có sự tham gia của người tham gia tố tụng khác khi thấy cần thiết; c) Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ trì lập biên bản với bị can, bị cáo, người bào chữa, có sự tham gia của Kiểm sát viên; người tham gia tố tụng khác tham gia vào việc lập biên bản khi thấy cần thiết. 2. Biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt phải nêu rõ: a) Nội dung bị can, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh, các tình tiết của vụ án phù hợp với chứng cứ đã thu thập; b) Việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ khác; c) Mức hình phạt, biện pháp tư pháp Viện kiểm sát dự kiến đề nghị Tòa án xem xét áp dụng; d) Ý kiến của bị can, bị cáo và người bào chữa. Việc lập biên bản phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. 3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này. |
Bổ sung Điều 445 để bảo đảm căn cứ áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 2 Điều 443 |
|
|
7 |
Điều 448. Điều tra 1. Thời hạn điều tra đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 443 của Bộ luật này là 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. 2. Thời hạn điều tra đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này không quá một phần hai thời hạn điều tra theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. 3. Việc điều tra theo thủ tục rút gọn chỉ tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết để làm rõ những vấn đề cần chứng minh của vụ án. 4. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố. Quyết định đề nghị truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định. Đối với trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này, quyết định đề nghị truy tố còn phải nêu rõ nội dung bị can tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và kết quả thực hiện cam kết để được hưởng khoan hồng. 5. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đề nghị truy tố, Cơ quan điều tra phải giao quyết định đề nghị truy tố cho bị can hoặc người đại diện của bị can, gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ và chuyển quyết định đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát. |
Bổ sung để phù hợp với Điều 443 |
|
|
8 |
Điều 449. Quyết định truy tố 1. Đối với trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 443 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát ra một trong các quyết định: a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố; b) Không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án; c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; d) Tạm đình chỉ vụ án; đ) Đình chỉ vụ án. 2. Đối với trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này thì tùy từng trường hợp xử lý như sau: a) Trường hợp đã áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn điều tra thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố thì Viện kiểm sát ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này; b) Trường hợp đến giai đoạn truy tố Viện kiểm sát mới xem xét quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì trong thời hạn không quá một phần hai thời hạn truy tố quy định tại Điều 246 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Quyết định truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nêu rõ lý do và căn cứ truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định. Đối với trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này, quyết định truy tố còn phải nêu rõ nội dung bị can tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt, kết quả thực hiện cam kết để được hưởng khoan hồng và hình phạt đề nghị Tòa án áp dụng. 4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát phải giao quyết định cho bị can hoặc người đại diện của họ; gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ và chuyển quyết định truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án. |
Bổ sung để phù hợp với Điều 443 |
|
|
9 |
Điều 451. Phiên tòa xét xử sơ thẩm 1. Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành. 2. Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố. 3. Việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa được tiến hành khi thấy cần thiết nhưng chỉ tập trung vào những chứng cứ, tình tiết của vụ án còn có ý kiến khác nhau hoặc cần được làm rõ. Phiên tòa sơ thẩm không tiến hành nghị án. 4. Trường hợp vụ án áp dụng thủ tục rút gọn theo khoản 2 Điều 443 của Bộ luật này thì tại phiên tòa, Thẩm phán phải xem xét, đánh giá các nội dung sau: a) Tính tự nguyện của việc nhận tội, chấp nhận hình phạt; sự phù hợp giữa việc nhận tội và chứng cứ của vụ án; b) Tính hợp pháp, khách quan của biên bản ghi nhận việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt; c) Mức hình phạt, biện pháp tư pháp Viện kiểm sát đề nghị; d) Những vấn đề khác liên quan đến vụ án khi thấy cần thiết. 5. Trước khi Thẩm phán quyết định áp dụng hình phạt đối với trường hợp nêu tại khoản 4 Điều này, Kiểm sát viên, người bào chữa phát biểu ý kiến, bị cáo nói lời sau cùng. Thẩm phán ra bản án theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật này, trong đó nêu rõ: a) Ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa (nếu có) về việc tự nguyện nhận tội, nhận hình phạt; b) Nhận định của Thẩm phán về việc tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt của bị cáo, tính hợp pháp, khách quan của biên bản ghi nhận việc cam kết và hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị; c) Quyết định của Thẩm phán về tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, mức hình phạt được áp dụng với bị cáo, án phí và các vấn đề khác. 6. Thẩm phán quyết định mức hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát; trường hợp cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn mức Viện kiểm sát đề nghị làm thay đổi căn cứ bị cáo đã chấp nhận theo cam kết thì phải nêu rõ lý do trong bản án. 7. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này. |
Bổ sung để phù hợp với Điều 443 |
|
|
Ghi chú: Phần bôi đen là nội dung mới. |
|||


Bài mới nhất
Biểu tượng Hồ Chí Minh đã đến lúc giải thiêng?
Nguyễn Quang Thiều bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng: Vụ án “Chuyện với Thanh”
Luật Khoa ra mắt số báo tháng Bảy – 2026
Quản theo năng lực, phạt theo nhu cầu
Bảo Đại có phải là một vị vua yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc?
Siêu dự án Làng Vân – Kỳ 1: Hai thập niên làng Vân hóa “làng Vin”
Timeline “Tiểu Cách mạng Văn hóa” thời Tô Lâm – Kỳ 1: Chiến dịch “chống lật sử”
Christopher Nolan “lật sử” trắng trợn nhưng sao chưa bị bắt?
Làm sao xác định Hồ Chí Minh có bị xúc phạm hay không?
19/7/2024: Nguyễn Phú Trọng qua đời và một di sản chưa được gọi tên
Con gái của tử tù oan Nguyễn Văn Chưởng mắc bệnh hiếm
Nhìn lại: Báo nhà nước và MXH đã đấu tố Chu Ngọc Quang Vinh như thế nào?
Nhà giáo Bùi Trân Phượng: Giáo dục khai phóng là dạy thiệt, học thiệt
Đông Nam Á không chọn phe nhưng cũng không thể đứng ngoài cuộc chiến chip AI
Mười năm sau phán quyết Biển Đông: luật pháp hay sức mạnh chi phối?
Giáo phận Bắc Ninh chưa đồng thuận di dời các cơ sở tôn giáo; Lào Cai “xóa bỏ hoàn toàn” đạo Ân điển cứu rỗi
Ấn hành “Chuyện với Thanh”, ba lãnh đạo nhà xuất bản bị khởi tố vì tội tuyên truyền chống nhà nước
Bạn Nguyễn Thành Nam mà tôi biết
Đi săn hôm trước, hôm sau làm mồi
Nếu chưa kịp đọc “Chuyện với Thanh”, hãy thử đọc quyển sách này
Đại học khai phóng thời Việt Nam Cộng hòa – Kỳ cuối: Một công trình dang dở
Spiderum: Chơi với lửa có ngày “phổng đạn”
Nịnh sáng tạo quá cũng chết
Đại học khai phóng thời Việt Nam Cộng hòa – Kỳ 2: Đại học độc lập với chính quyền
“Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao”
Nguyễn Thành Nam bị bắt, thú tội “bôi nhọ Hồ Chủ tịch”
Trump gọi chủ nghĩa cộng sản là “kẻ thù”: 3 rủi ro của Việt Nam
Một vở hí kịch giữa pháp trường
Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao. Rồi sao nữa?
Phạt đến 30 triệu vì chia sẻ tin tức: Bước tiến bảo hộ bản quyền hay bước lùi của báo chí?
Thông báo về việc chia sẻ nội dung của Luật Khoa lên mạng xã hội
Chia sẻ “tin giả” phạt đến 50 triệu đồng: Thật-giả vẫn do công an quyết
38 năm trước, đã có một lễ phong thánh làm chính quyền bất an
Đại học khai phóng thời Việt Nam Cộng hòa – Kỳ 1: Khi lịch sử chọn miền Nam
Trung ương Đảng: Không gian lấn biển là “nguồn lực phát triển mới”
Dự án Gia Bình: Bắc Ninh bốn lần thất hứa giao đất tái định cư cho người dân
Facebooker Hoàng Thị Hồng Thái lĩnh 6 năm tù vì “chống nhà nước”
Đang tải thêm bài viết...
Không còn bài viết nào khác